Cách đọc bản đồ nhiệt
Mỗi ô là % thay đổi của một cặp tiền trong kỳ đã chọn. Hàng là đồng đứng trước, cột là đồng đứng sau: ô ở hàng GBP, cột NZD là cặp GBPNZD. Ô xanh có dấu + là cặp tăng giá, tức đồng ở hàng lên giá so với đồng ở cột; ô đỏ có dấu − là giảm. Màu càng đậm thì % thay đổi càng lớn; ngưỡng ghi ở chú giải, hẹp ở kỳ 1 giờ và rộng dần tới kỳ 1 tuần.
- Xếp mạnh tới yếu: đồng tiền có % trung bình trên hàng cao nhất đứng đầu, nên nửa trên bên phải thường xanh, nửa dưới bên trái thường đỏ. Hàng gần như toàn xanh là đồng lên giá so với hầu hết các đồng còn lại; điểm cụ thể của từng đồng có ở công cụ Sức mạnh tiền tệ.
- Hai ô đối xứng qua đường chéo gần như ngược dấu nhau: GBPNZD tăng 0,75% thì NZDGBP giảm khoảng 0,74%. Hai số không bằng nhau tuyệt đối vì mỗi ô chia cho giá đầu kỳ của chính cặp đó.
- Chỉ là diễn biến đã qua trong kỳ, không phải dự báo hay tín hiệu mua bán.
Cách tính
- Giá mỗi cặp: kỳ 1 giờ, 4 giờ là giá đóng của nến MT5 trên máy chủ CXMDirect-Live, chỉ lấy nến đã đóng; kỳ 1 ngày, 1 tuần là tỷ giá tham chiếu ECB công bố mỗi ngày làm việc, cặp không có EUR được tính chéo qua EUR.
- % thay đổi = (giá cuối kỳ − giá đầu kỳ) ÷ giá đầu kỳ × 100. Giá đầu kỳ 1,1000, giá cuối kỳ 1,1110 thì cặp tăng +1,00%.
- Kỳ 1 giờ, 4 giờ so giá đóng của nến vừa đóng với nến liền trước, cùng một mốc nến cho cả 28 cặp. Kỳ 1 ngày so với 1 ngày làm việc trước, kỳ 1 tuần so với 5 ngày làm việc trước; ECB chỉ công bố một giá mỗi ngày nên kỳ ngày không có giá mở cửa phiên như trên sàn.
- Ô theo chiều ngược (hàng USD, cột EUR) tính từ giá nghịch đảo: USD/EUR = 1 ÷ EUR/USD.
Bản đồ nhiệt trên các nền tảng giao dịch thường tính từ giá trực tiếp và giá mở cửa phiên; nến MT5 ở đây dựng từ giá Bid (chào mua) của CXM. Vì vậy % ở đây có thể khác số bạn thấy ở nơi khác.